logo

NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP... TẠI SAO KHÔNG???

Ngày đăng: 24/09/2020
Để trả lời câu hỏi “Tại sao phải thành lập Nghiệp đoàn độc lập?” chúng ta phải tìm hiểu lịch sử “Nghiệp đoàn độc lập” ở Miền Nam và “Công đoàn Việt Nam” là một tổ chức do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập và lãnh đạo giai đoạn thuộc địa và chiến tranh ý thức hệ.

Tổ chức nghiệp đoàn Việt Nam giai đoạn Pháp thuộc và Việt Nam Cộng hòa

Về pháp lý có thể nói ngày 05/7/1945, khi vua Bảo Đại đặt bút ký sắc dụ (đạo luật) 73 về tự do thành lập nghiệp đoàn là văn bản pháp lý đầu tiên của Việt Nam liên quan đến tổ chức của công nhân và người lao động trong mọi giới. Căn cứ vào Đạo luật 73 về quyền thành lập nghiệp đoàn, cuối năm 1948 ông Gilbert Jouan, một người Pháp đang làm việc tại Việt Nam đã hợp tác cùng ông Trần Quốc Bửu, người Việt Nam thành lập nghiệp đoàn tại Việt Nam lấy tên tiếng Việt là: Liên đoàn Công nhân Cơ đốc (CVTC). Trong hai năm 1949 - 1950, CVTC đã tuyển mộ được 8.000 đoàn viên với 10 nghiệp đoàn cơ sở bao gồm công nhân của hãng xe hơi Citroen, hãng Hàng không Việt Nam, giới thư ký đánh máy, thợ đóng giày chủ yếu tại các địa phương nằm dưới sự quản lý của người Pháp... CVTC phải giảm vận động khi cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp của Việt Minh bước vào giai đoạn cao trào.

Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, Việt Nam bị phân chia thành 2 miền theo 2 chế độ chính trị khác nhau, từ năm 1955 đến 1964 Đại sứ quán Hoa Kỳ (Quốc gia ủng hộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa) nhiều lần lưu ý các đời tổng thống Việt Nam Cộng hòa cho phép Liên đoàn Công nhân Cơ đốc một không gian cần thiết để tổ chức các nghiệp đoàn cơ sở với nhận xét: Nghiệp đoàn được hoàn toàn tự do hoạt động như là một dấu hiệu chứng minh nền dân chủ của Việt Nam Cộng hòa. Từ đó nghiệp đoàn được tự do hoạt động. Năm 1964, CVTC quyết định đổi tên thành Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam (CTV). Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam cùng tất cả các tổ chức xã hội dân sự khác ở Miền Nam chấm dứt hoạt động vào năm 1975 sau khi chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ.

Theo các nhà nghiên cứu nghiệp đoàn quốc tế đánh giá, từ năm 1948 đến năm 1975 là năm ngừng hoạt động, Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam luôn luôn là một tổ chức phi chính trị, với các tiêu chí:

1. Giữ truyền thống của Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam là một nghiệp đoàn đấu tranh thường trực vì công bằng xã hội và quyền lợi của công nhân và người lao động.

2. Luôn luôn xem quyền biểu tình là một phần không thể thiếu trong quyền của người lao động.

3. Luôn luôn giữ sự độc lập với chính quyền.

Tổ chức Công đoàn Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với mục tiêu đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc và xây dựng quốc gia theo con đường xã hội chủ nghĩa.  Đảng đã sử dụng rất hiệu quả tinh thần yêu nước của đại đa số quần chúng nhân dân Việt Nam, trong đó có giai cấp công nhân cho mục tiêu chính trị. Nổi bật trong giai đoạn này là một tổ chức nghề nghiệp của công nhân hoạt động bí mật  nhưng xưng danh  là “Công Hội Đỏ” ra đời.

Trong giai đoạn 1930 - 1935, Công Hội Đỏ đã cử hơn 300 cán bộ về nông thôn phối hợp tranh đấu, xây dựng khối liên minh công nông. Phong trào đấu tranh chính trị của công nhân trong các tổ chức Công Hội Đỏ Việt Nam được biểu dương, khích lệ trong đại hội Công Hội Đỏ Quốc tế V, ngày 15/8/1930 tại Thủ đô Mạc-Tư-Khoa, trung tâm của cuộc cách mạng vô sản quốc tế bấy giờ.

Từ năm 1936 đến 1939 để thích nghi với tình hình chính trị quốc tế, tổ chức Công Hội Đỏ của Đảng Cộng sản đổi thành Hội Ái hữu và chuyển sang thời kì hoạt động bán công khai. Mục tiêu của Hội Ái hữu thời kì này là đại diện cho đảng trực tiếp dẫn dắt phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam, mở rộng tính quần chúng của tổ chức công đoàn dưới sự lãnh đạo của đảng. (Tóm lược lịch sử tổ chức Công đoàn Việt Nam)

Từ Công Hội Đỏ đến Hội Ái hữu và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ngày nay, mục tiêu chính trị của tổ chức Công đoàn Việt Nam được xác lập trong tất cả các Luật Công đoàn qua nhiều lần sửa đổi và chốt lại tại Luật Công đoàn số 12/2012/QH13 của Quốc hội Việt Nam với định nghĩa ở Chương I: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động,... là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam;... xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chính vì mục tiêu chính trị mà Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các tổ chức công đoàn cơ sở trực thuộc xem nhẹ mục tiêu truyền thống và phổ quát của các tổ chức công đoàn, nghiệp đoàn trên toàn thế giới là bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Từ 3, 4 thập niên gần đây, nhà nước Việt Nam có những bước đi đáng khích lệ theo hướng hội nhập vào nền kinh tế thế giới để phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sống của người dân và vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Tuy nhiên càng hòa nhập vào thế giới, tổ chức Công đoàn Việt Nam càng lộ rõ những bất cập, nhiều lúc mâu thuẫn giữa hai chức năng: bảo vệ quyền lợi của người lao động và mục tiêu chính trị mà tổ chức này phải gánh vác.

Với lực lượng lao động dồi rào, nhân công giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi, chính trị ổn định, Việt Nam đang thu hút đầu tư mạnh từ các nhà tư bản ở các quốc gia phát triển hơn. Vì ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài, nhà nước Việt Nam là một chủ nhà dễ tính, luôn để cho người lao động là công dân nước mình chịu thiệt thòi khi ban hành các luật, chính sách, chế độ liên quan đến người lao động

Chắc chắn là các Công đoàn cơ sở thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, dù quan liêu đến mấy cũng biết chuyện các đoàn viên của mình bị đối xử bất công trong giá trị tiền lương/ngày công và nhiều thua thiệt khác ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tư nhân. Tuy nhiên, bị trói buộc trong Luật Công đoàn, trong Điều lệ Công đoàn, Công đoàn Việt Nam ngày càng xa rời mục tiêu cốt lõi và phổ quát của Liên hiệp Công đoàn Thế giới và Tổ chức Lao động Quốc tế.

Có nên thành lập một hệ thống công đoàn thứ hai ở Việt Nam, bắt đầu từ các nghiệp đoàn độc lập cơ sở song song với hệ thống công đoàn đang tồn tại?

1. Lý do nội tại phải có nghiệp đoàn độc lập?

Câu hỏi này không nhằm mục đích phủ nhận vai trò của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Tuy nhiên, một thực tế không thể bàn cãi rằng Công đoàn Việt Nam đang không làm đúng, đủ chức năng của mình trong bối cảnh đội ngũ công nhân, người lao động Việt Nam phát triển đa dạng và mạnh mẽ về số và chất lượng, nhưng bị đối xử không tương xứng.

2. Lý do ngoại tại

Khi đã gia nhập các tổ chức kinh tế, thương mại Quốc tế, Việt Nam phải thực hiện các công ước, các cam kết liên quan đến người lao động. Trước mắt là cam kết trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong đó có cam kết cho phép người lao động có quyền thành lập nghiệp đoàn độc lập.

Để thực hiện cam kết, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Lao động năm 2019, có hiệu lực vào năm 2021, trong đó dành toàn bộ Chương XIII để minh định quyền thành lập nghiệp đoàn độc lập của công nhân, người lao động. Tuy còn phải bàn cãi để Chương XIII Bộ luật này phù hợp với Công ước 87 của ILO, nhưng ít ra người lao động cũng ghi nhận một bước “cởi trói” đối với họ của nhà nước Việt Nam để hòa nhập vào nền kinh tế thế giới.

Trên thực tế, nhà nước Việt Nam đã chuẩn bị cho việc ra đời các nghiệp đoàn độc lập mà nhà nước gọi bằng danh từ: Tổ chức đại diện người lao động  (TCĐDNLĐ).  Trong báo cáo chuyên đề về nội dung trên vào ngày 12/9/2019, Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội (cơ quan chủ quản cao nhất của nhà nước về lao động, xã hội) ủng hộ sự ra đời của các nghiệp đoàn độc lập bằng khẳng định: “Việc thành lập TCĐDNLĐ sẽ góp phần xây dựng hệ thống quan hệ lao động mới, dựa trên sự quan hệ một cách thực chất tiếng nói của người lao động. Điều này cũng sẽ giúp hiện đại hóa Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và công đoàn cơ sở”.

Như vậy có thể kết luận nhà nước Việt Nam đã cho phép người lao động được thành lập nghiệp đoàn độc lập theo yêu cầu của EVFTA và CPTPP thể hiện qua Bộ luật Lao động mà Quốc hội đã thông qua vào tháng 11/2019, có hiệu lực vào năm 2021. Mặc dầu nhiều nội dung của Bộ luật còn phải bàn cãi, chỉnh sửa để chuẩn xác tuyệt đối với các công ước của ILO nhưng người lao động Việt Nam nào ủng hộ nghiệp đoàn độc lập, có nguyện vọng tham gia các nghiệp đoàn độc lập cơ sở có thể đón nhận và chuẩn bị để cho ra mắt các tổ chức đại diện thực sự của mình bắt đầu từ năm 2021, khi Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực.

Khẳng định rằng không tránh khỏi những va đập với các thế lực cực đoan “đỏ quá hóa đen” trong hệ thống chính trị Việt Nam đang tìm cách ngăn cản sự ra đời của các tổ chức nghiệp đoàn độc lập, qua đó cách ly Việt Nam với EVFTA và CPTPP để kìm hãm phát triển nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, các bạn có thể nhận hỗ trợ pháp lý và tinh thần từ Nghiệp đoàn Độc lập Việt NamNhóm bạn công nhân; ngoài ra trên phương diện quốc tế, các bạn còn được hỗ trợ bởi những chế tài của EVFTA và CPTPP một khi Việt Nam không thực hiện cam kết với hai hiệp định thương mại trên và từ một Ủy ban chuyên trách của EU được lập ra để giám sát Việt Nam.

 

Nguyễn Hải Bình

 

  

 

 

 

 

 

Kích thước font In ấn

Bình luận chia sẻ

Bình Luận - Quan Điểm
1
https://www.voatiengviet.com/

NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP VIỆT NAM (VIU) 

Tổ chức phi chính trị và bất vụ lợi, được sáng lập từ nhu cầu thực tiễn và theo đuổi sứ mệnh bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tôn chỉ hoạt động của nghiệp đoàn là Đoàn kết - Tương trợ - Phát triển 

Kết nối với chúng tôi